Tùy Bút: Huế – Đà Nẵng – Hội An

Tùy Bút: Huế – Đà Nẵng – Hội An

Vài ngày nữa, tôi sẽ đến Đà Nẵng thăm vài người bạn, trước khi ra Huế để đón tết Mậu Tuất. Những thành phố lớn ở trung trung bộ gồm Huế, Đà Nẵng và Hội An đều đã trải qua những năm tháng huy hoàng. Chúng tuy gần, chỉ trong khoảng 100 km, nhưng lại rất xa. Dưới bàn tay nghiệt ngã của lịch sử, số phận của các thành phố đã đi vào các ngã rẽ khác nhau.

Từ đầu thế kỷ XVII, Huế đã là nơi đặt phủ của các chúa Nguyễn và nổi lên như là một trung tâm quyền lực chính trị quan trọng nhất của Đại Việt. Bảy lần nam tiến liên miên của nhà Trịnh trong suốt thế kỷ XVII (1637 – 1673) đã gieo nhiều đau thương cho Huế. Ở lần nam tiến cuối cùng, lần thứ tám, năm 1775, cách 100 năm sau lần tấn công thứ bảy, Huế đã trở thành một địa danh của xứ Đàng Ngoài và ngay cả đội quân Tây Sơn vừa mới chớm ở Bình Định cũng bị tan tác bởi quân Trịnh.

Không biết phong thủy của đất thần kinh xứ Huế như thế nào mà dường như ai làm chủ Huế thì tất phải chịu số phận bi thương. Lịch sử là một trò chơi số phận. Những gì xảy ra trong giai đoạn này giống như một trong những cách để xem lá số tử vi: ‘Cái gì quá tốt thì hóa xấu và, ngược lại, cái gì quá xấu bỗng biến thành rực rỡ’.

Đến năm 1775, nước Lê – Trịnh vững mạnh đã có biên giới rộng lớn, kéo dài đến Quảng Nam nhưng, ai biết được, chỉ 10 năm sau thôi, 1786, Phú Xuân – Huế lại là kinh đô của nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ. Rồi chỉ thêm 3 năm nữa, cuộc bắc tiến của Nguyễn Huệ năm 1789 đã xóa sổ nhà Lê. Thế nhưng, một nhà nước, làm chủ kinh thành Huế, hùng mạnh như thế của Nguyễn Huệ, có ai ngờ, cũng chỉ tồn tại thêm được 10 năm. Đến 1802, cuộc bắc tiến ra đến Thăng Long của Nguyễn Phúc Ánh đã thành lập một nhà nước mới, nước Việt Nam thống nhất. Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua tại Huế, lấy niên hiệu Gia Long, nhằm tượng trưng cho đất nước liền một mối từ Gia Định đến Thăng Long.

Vô vàn cuộc nam tiến và di dân về phía nam, thậm chí Nguyễn Huệ cũng đã từng nam tiến để tiêu diệt một nhà nước Tây Sơn khác của anh ruột mình là Nguyễn Nhạc đóng binh ở Bình Định. Dường như lịch sử chỉ chứng kiến 3 lần “bắc tiến” và đã hoàn toàn thành công. Lần thứ nhất xảy ra trong thế kỷ XVI – XVII, nhà Lê (nam triều) từ Thanh Hóa tiến quân vào Thăng Long, tiêu diệt nhà nước họ Mạc (bắc triều). Hai lần sau, như đã kể, trong thế kỷ XVIII.

Thế nhưng, số phận nghiệt ngã lại tiếp tục dành cho những ai làm chủ Huế. Năm Hàm Nghi thứ hai 1885, ngày 23/5 âm lịch, quân Pháp tiến vào Đại Nội và kinh thành Huế phủ đầy xác người Việt. Từ đó, 23/5 âm lịch được xem là ngày giỗ chung cho Huế và Việt Nam rơi vào tay của người Pháp. Một lần nữa, những ngày xuân Mậu Thân 1968, Huế bỗng chìm vào tang thương cùng hơn 5.000 con người bị buộc phải từ bỏ kiếp sống ngay giữa mùa xuân. Đến 1976, sự thành lập tỉnh Bình Trị Thiên giống như một nhác gươm cuối cùng giáng xuống. Huế đã trở nên bình lặng, không còn cái dáng dấp quyền uy từ những ngày xưa nữa.

Trong khi Huế đang mải mê trên con đường danh vọng vào các thế kỷ XVII – XIX thì Hội An âm thầm chuyển mình thành một trung tâm quyền lực kinh tế bậc nhất Đông Nam Á, nơi giao thoa các nền văn hóa Việt – Hoa – Bồ – Pháp – Hà Lan – Nhật – Champa… Hội An còn có tên Hoài Phố, tên tiếng Pháp của nó là Faifo (phải chăng phiên âm từ Hoài Phố?).

Người Hoa đã đến Hội An từ rất sớm. Đến thế kỷ XVII, cùng sự phát triển kinh tế của Nhật thời Mạc Phủ, Hội An trở thành một thương cảng lớn nhất. Sự buôn bán tấp nập diễn ra, ban đầu với người Nhật và Hoa, về sau lôi cuốn cả các đất nước khác. Bên cạnh sự phát triển kinh tế là sự giao lưu văn hóa khiến cho Hội An trở thành một bức tranh đầy sống động và đa dạng về văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo,…

Dường như một bức màn vô hình buông xuống che phủ Hội An thoát khỏi mọi sự tàn phá từ các cuộc chiến tranh, chỉ trừ duy nhất cuộc chiến năm 1775. Trong lần nam tiến cuối cùng đó, quân Trịnh đã đốt sạch Hội An. Thế nhưng, Hội An đã mau chóng phục hồi và bảo tồn được các giá trị của mình. Đến nay, “Phố cổ Hội An” được UNESCO vinh danh là Di sản Văn hóa Thế giới.

Thế nhưng, đến nửa sau thế kỷ XIX, người Pháp đã không chọn Hội An mà lại chọn Đà Nẵng làm nơi phát triển kinh tế. Từ đó, Hội An bước vào giai đoạn suy tàn và nhường cuộc chơi lại cho thành phố Đà Nẵng.

Bán đảo Sơn Trà, có lẽ là địa danh quan trọng nhất của Đà Nẵng và cả tỉnh Quảng Nam nói chung. Nhìn từ trên cao, Sơn Trà giống như một đóa hoa tuyệt đẹp nhô ra biển lớn. Rừng nguyên sinh chiếm gần như toàn bộ bán đảo và người Pháp đã chọn làm nơi lý tưởng để bước chân vào đất Việt. Thế nên, nơi đây, ngày 01/9/1858, người Pháp lần đầu tiên bước vào Việt Nam, mở đầu một trang sử bi thương kéo dài đến hơn 80 năm.

Những năm gần đây, Sơn Trà lại bỗng được nhắc đến nhiều. Không phải là vẻ đẹp tuyệt vời của khu rừng nguyên sinh còn sót lại mà là những dự án xây cất (kể cả chưa phép) các khu nhà nghỉ, resort,… đã xé nát bán đảo.

Đà Nẵng xưa kia có tên Cửa Hàn. Đến thời thuộc Pháp thì Đà Nẵng có tên tiếng Pháp là Tourane và trở thành một nhượng địa cho phía Pháp, tương tự như Hongkong, Macao, hay nói nôm na là tương tự như Formosa bây giờ. Đến 1950, Tourane trở lại thành Đà Nẵng, được quản lý bởi chính phủ Bảo Đại.

Từ giữa thế kỷ XIX đến nay, Đà Nẵng liên tục phát triển và trở thành một thành phố hiện đại nhất. Ngoài ra, người ta nói là Đà Nẵng còn nhiều cái nhất khác vượt lên trên các thành phố khác. Thành phố đẹp nhất, sạch nhất, nhiều chiếc cầu sang sông nhất, đáng sống nhất,…

Mỗi thành phố một số phận, rạng rỡ và bi thương đan lồng lẫn nhau. Ai đó nói rằng: “Không có một ông vua nào mà tổ tiên không là nô lệ và cũng không có nô lệ nào mà tổ tiên đã chưa từng là vua”. Thành phố cũng như một kiếp con người, như một triều đại lịch sử, đều có khởi đầu, hưng thịnh và suy tàn. Mọi thứ đều bỗng vô thường trong tầm tay tạo hóa.

Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments
Scroll to Top