Tùy Bút: Huế Hôm Nay Và Dĩ Vãng

Tùy Bút: Huế Hôm Nay Và Dĩ Vãng

Tôi trở lại Huế như trở về dĩ vãng từ nghìn xa. Huế vẫn cũ kỹ như từ thuở nào và phố xá hầu như không thay đổi sau bao năm dài. Những hạt mưa lất phất rơi xuống trong đêm được soi rọi bởi ánh đèn xe ngược sáng trở nên long lanh hơn giữa lối nhỏ buồn tênh.

Tuy thế, Huế đã trở nên huyên náo trong cảnh chen lấn bởi dòng người hối hả đang cố khẳng định vị trí mới nổi của mình lẫn dòng xe đan xen nhau tìm lối thoát. Hôm nay, Huế dường như là một sự pha trộn gượng ép giữa cái trầm lắng nho nhã đã bị lãng quên và cái ồn ào của một thứ văn hóa mới lẫn cái bảo thủ đến kiên trì, thách thức mọi đổi thay, khiến cho Huế trông giống như một bà già lú lẩn, có khi buồn tủi đến não lòng, có khi cười vang ngây dại như đứa bé con không thể trưởng thành.

Từ lâu, dòng Hương Giang đã trở thành biểu tượng của thành phố Huế vì dáng tĩnh lặng và nét thơ mộng của nó. Đứng trước mỗi dòng sông, người ta luôn có những cảm xúc khác nhau tuỳ thuộc vào con sóng nước cũng như cảnh trí đôi bờ. Những con sông chảy ngang qua miền đồng bằng châu Âu, như Meuse, Seine, Danube hay Volga, mà hai bên bờ luôn được chăm chút cẩn thận bởi bàn tay con người, lại thấp thoáng thêm những lâu đài vươn xa, để lại cảm giác kiêu hãnh của một đất nước. Tuy nhiên, những dòng sông trên quê hương chúng ta dường như lại luôn vấn vương nỗi buồn sầu thương của một cuộc tình đã bị đánh cắp từ muôn kiếp nào.

Chẳng biết được từ khi nào ai khéo đặt tên Hương cho con sông. Có người nói một loài cỏ dại tên “thạch xương bồ” mọc hoang dọc đôi bờ mà nay còn tìm thấy rất nhiều dưới cồn Dã Viên có mùi hương ngào ngạt rất đặc trưng khiến cho người ta gọi con sông là Hương. Có người nói chữ Hương là do con sông chảy ngang qua huyện Hương Trà. Người khác lại bảo rằng ngày xưa chúa Tiên, Nguyễn Hoàng, khi lướt ngang dọc trên sông, đến đoạn đồi Hà Khê, được một bà tiên ban cho một bó hương trên đường tìm vị trí đặt phủ nên chúa đặt tên Hương Giang cho con sông…

 Từ những năm đầu thế kỷ XVII, khoảng 1600, Thuận Hoá (về sau là Phú Xuân, rồi là Huế) dần dần trở thành một trung tâm quyền lực chính trị quan trọng của cả nước thì cũng là lúc vận nước bước sang cảnh điêu linh. Quyền lực các vua Lê thời Trung hưng suy yếu, đất nước bị phân ly thành hai miền bắc – nam mà âm hưởng của nó vẫn còn tiềm tàng đến tận hôm nay.

Năm 1771, anh em nhà Tây Sơn khởi nghĩa và rất nhanh sau đó, năm 1778, đã phá thế phân tranh của hai xứ Đàng Ngoài và Đàng Trong. Sau đó, nhà Tây Sơn cũng đã kết liễu vương triều nhà Lê mà vị vua cuối cùng là Lê Chiêu Thống phải chạy sang TQ. Từ năm 1786, Phú Xuân – Huế lần đầu tiên trở thành kinh đô của Đại Việt, dưới thời nhà Tây Sơn.

Tuy nhiên, một điều đáng buồn là cái gì nhà Tây Sơn không muốn thì đến một nhóm tro tàn cũng không được phép tồn tại. Phủ chúa Trịnh nguy nga, tráng lệ vào bậc nhất được xây dựng ròng rã trong 50 năm giữa Thăng Long hoa lệ, với sự trợ giúp của nhà Tây Sơn, bị thiêu rụi chỉ trong 3 ngày đêm. Sau đó, người ta trồng cây khắp nơi để xoá bỏ mọi dấu vết và đến nay không ai có thể biết phủ chúa Trịnh đã từng tồn tại như thế nào. Tại xứ Thuận Hoá (từ nam Quảng Trị đến Thừa Thiên Huế), các phủ và lăng của các chúa Nguyễn cũng chịu chung số phận tương tự. Sau khi thống nhất đất nước vào năm 1802, vua Gia Long cố tìm lại các bộ hài cốt của tổ tiên nhưng nghe nói đã bị băm nát và vứt bỏ trôi sông.

“Ai bắn vào quá khứ một viên đạn thì tương lai sẽ trả lại bằng một quả đại bác”, Gamzatov (1923 – 2003) đã nói như vậy tương tự như luật nhân quả của giáo lý Phật giáo. Cái cách kết liễu triều đại Tây Sơn cũng giống như họ đã từng làm trước đó không lâu.

Đáng tiếc là, bao giờ cũng vậy, nơi thấm nhuần tư tưởng phương đông, vì sự chính danh của mình mà những tinh tuý của chế độ trước luôn bị chối bỏ, có khi còn bị nguyền rủa nữa, bởi những người đến sau. Nếu bạn chạy vòng quanh hoàng thành Đại Nội, bạn sẽ không thể tìm thấy bất kỳ con đường nào mang tên các danh nhân triều Nguyễn, hoặc những con người đã từng xây dựng và bảo vệ thành nội vào buổi gian khó, để tưởng nhớ một trong những trang sử bi thương của đất nước. Lịch sử đang nối tiếp chuỗi dài sự phủ định các giá trị tinh túy?

Năm 1820, Minh Mạng (1791 – 1841) lên ngôi vua. Ông đã khước từ tất cả các giá trị phương tây từ văn hóa, khoa học, nghệ thuật,… đến tôn giáo và xây dựng nhà nước Đại Nam hùng mạnh theo văn hóa cổ truyền phương đông, lấy TQ làm trung tâm (TQ Nho giáo thời đó chứ không phải TQ Cộng sản thời nay) mà biên giới rộng lớn chiếm trọn cả vùng Đông dương.

Tuy nhiên, sự thịnh vượng của nhà nước phương nam dưới cái bóng của TQ không thể kéo dài. Năm Tự Đức thứ XII, ngày 01/9/1858, người Pháp lần đầu tiên tiến vào đất Việt bằng loạt đạn đại pháo nã vào bán đảo Sơn Trà. 17/2/1859, Pháp chiếm thành Gia Định. 25/2/1861, Pháp chiếm thành Kỳ Hòa trong vòng 1 ngày. 20/11/1873, Pháp chiếm thành Hà Nội lần thứ nhất sau 1giờ. 25/4/1882, Pháp chiếm Hà Nội lần hai sau 3giờ. Trong mỗi trận chiến đó, người Pháp chỉ cần hơn 100 tên lính để đương đầu với 3.000 – 8.000 lính Việt, thậm chí trận chiếm thành Ninh Bình, chỉ cần 7 tay súng người Pháp đủ để hạ 2.000 quân dân người Việt.

27 năm trôi qua kể từ ngày đội quân người Pháp lần đầu tiên đặt chân lên đất nước, một thế hệ người Việt khôn lớn trưởng thành, háo hức tìm điều mới lạ nhưng triều đình Tự Đức vẫn kiên trì Nho giáo, kiêu hãnh với nền văn hóa phương đông dưới sự bảo trợ của nước láng giềng, mặc dù vô vàn cơ hội thay đổi đem đến, thậm chí người Pháp đã nhiều lần giúp sức. Đêm 22/5 âl, năm Hàm Nghi thứ II (ngày 04/7/1885), Tôn Thất Thuyết, bằng tất cả sự căm hờn và lòng yêu nước nồng nàn, đem 20.000 quân quyết chiếm đồn Mang Cá. Loạt đại bác vang rền bay tới tấp vào đồn. Tiếc thay, tầm đạn bay không xa, không bay được đến nơi cần phải đến. Sáng hôm sau, người Pháp phản công. Chỉ vài loạt đạn súng máy, đại quân Việt rã tan như bọt biển, tháo chạy về phía đường Mai Thúc Loan ngày nay, chen lấn nhau và giẫm đạp lên nhau để cố thoát ra cổng Đông Ba mà bề ngang chỉ rộng 4m. Phía sau đám quân lính đang vùng vẫy một cách tuyệt vọng đó chừng vài chục mét là vài chục tay súng người Pháp rất bình tĩnh, từ từ nhắm từng người một và nhả đạn…

Gần 3.000 xác chết đã để lại dọc đường Mai Thúc Loan đến cửa Đông Ba, vua Hàm Nghi buộc phải rời bỏ kinh thành và Việt Nam bỗng bước vào trang sử mới, đầy đau thương uất hận. Đó là cái giá phải trả cho sự ngạo mạn và sự kiên định vào niềm tin cổ truyền phương đông.

Huế ngày hôm nay vẫn cũ kỹ, vẫn bảo thủ dù bao năm đã trôi qua. Phải chăng lịch sử đang được diễn lại?

Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments
Scroll to Top