Tùy Bút: Sài Gòn Trong Tôi

Tùy Bút: Sài Gòn Trong Tôi

Có những nơi chốn lâu ngày trở lại thì nó vẫn vậy như chưa hề tồn tại dấu thời gian. Cũng có những thành phố thay đổi nhanh chóng đến ngỡ ngàng mà khi quay về người ta cảm thấy lạc lõng như bước vào một cõi xa lạ, không thể tìm lại được dấu vết xưa.

Sài Gòn không phải như vậy. Dấu vết xưa vẫn còn đó nhưng rêu phong đã phủ mòn, đã hư hao, chen lẫn cái nguy nga tráng lệ vừa mới chớm và ánh đèn màu rực sáng sắc tím vàng chói chang về đêm khiến cho Sài Gòn trông giống như một cô gái đã lỡ duyên thì đang cố khoe những đường cong đã tàn tạ.

Tính đến năm 2016, Sài Gòn đã có lịch sử 318 năm, kể từ năm 1698. Sài Gòn đã trải qua những chặng đường thăng trầm, tủi hổ cũng như vinh quang, cùng vận mệnh của đất nước. Đã có lúc Sài Gòn từng là thủ phủ của cả vùng Đông Dương, là thủ đô của một nước. Tuy nhiên, Sài Gòn cũng đã chịu nhiều thảm kịch tang thương trong những cuộc chiến đẫm máu và những cuộc ly tán đầy nước mắt. Hôm nay, Sài Gòn đã trở nên tiều tụy trong dáng vẻ mệt mỏi của một con bệnh nặng. Hòn Ngọc Viễn Đông năm nào dường như đã bị đánh cắp bởi một bàn tay vô hình nào đó.

Dẫu sao, Sài Gòn vẫn luôn là một miền đất hứa tươi tốt. Đất lành chim đậu, lớp lớp các thế hệ người Việt tứ phương đã đến đây lập nghiệp dài lâu rồi trở thành quê hương thứ hai và Sài Gòn luôn hào phóng đón nhận. Hôm nay, Sài Gòn có muôn vạn con người tạo nên một Sài Gòn muôn mặt và năng động. Một Sài Gòn đa nhân cách.

Những người Hoa (Minh Hương) đã đến vùng đất này, Prey Nokor (theo tiếng Khmer, tiếng Việt gọi là Đông Phố), một vị trí tuyệt đẹp nằm gọn giữa những cánh đồng bát ngát miền cao (đông nam bộ) và vùng đồng bằng với hệ thống sông ngòi chằng chịt (Tây nam bộ) từ rất sớm, cuối thế kỷ XVII, để khai khẩn và tị nạn chế độ nhà Thanh (Trung Quốc). Sau đó, những di dân Việt đến sau trong thời Chúa Hiền, Nguyễn Phúc Tần (1620 – 1687).

Năm 1698, dưới thời Chúa Quốc, Nguyễn Phúc Chu (1675 – 1725), Prey Nokor chính thức sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt với cái tên phủ Gia Định, mà trung tâm tại vùng Bến Nghé, gồm huyện Tân Bình (Sài Gòn, bây giờ thuộc Chợ Lớn quận 5) và huyện Phước Long (thuộc Đồng Nai bây giờ) do Nguyễn Hữu Cảnh (1650 – 1700) cai quản.

Năm 1859, lần đầu tiên đoàn quân viễn chinh Pháp tiến vào Sài Gòn mở đầu cho một trang sử đen tối của đất nước bằng việc phá hủy hoàn toàn thành Gia Định (nằm tại quận 1 ngày nay) cùng vài ngàn xác chết của lính Việt.

Triều đình Tự Đức cố ngăn chặn sự xâm lăng của người Pháp nên giao quyền cho Nguyễn Tri Phương xây chiến lũy Kỳ Hòa rộng 3km vuông (quận 10) vô cùng kiên cố thách thức mọi hỏa lực. Tuy nhiên, thành Kỳ Hòa chỉ đứng vững được trọn một ngày. Tối 25/2/1861, thành Kỳ Hòa thất thủ. Nguyễn Tri Phương rút quân về đồn Thuận Kiều và chỉ ba ngày sau, 28/2/1861, Thuận Kiều cũng thất thủ cùng khoảng gần 4.000 lính Việt hy sinh, trong khi người Pháp chỉ mất 12 tên lính lê dương.

Sau đó vài năm, nam bộ chính thức trở thành thuộc địa của Pháp. Ban đầu, Sài Gòn của người Pháp chỉ rộng 1km vuông với những công trình kiến trúc tuyệt đẹp như Bưu điện, Vương Cung Thánh Đường,… cùng những con đường vô cùng tráng lệ, đã trở thành biểu tượng của Sài Gòn, như vẫn còn đang thách thức mọi sự đổi thay của thời gian như Catinat (Tự Do – Đồng Khởi), Bonnard (Lê Lợi), Charner (Nguyễn Huệ) hay Norodom (Lê Duẩn). Về sau, Sài Gòn được mở rộng ra đến 3km vuông, được bao quanh bởi các con đường Cách Mạng Tháng Tám và Nguyễn Thị Minh Khai ngày nay. Khu vực này luôn được chăm sóc cẩn thận và trang trí hài hòa. Có phải nơi đây chính là Hòn Ngọc Viễn Đông thuở đó?

Trước năm 1975, đô thành Sài Gòn gồm 11 quận và tỉnh Gia Định bao chung quanh. Cấu trúc Sài Gòn – Gia Định giống như hầu hết các huyện Châu Thành miền tây nam bộ. Những người Việt đầu tiên đến khai phá vùng đất hoang vắng này thường tự lập thành một cộng đồng để bảo vệ nhau gọi là “châu thành”. Về sau các “châu thành” phát triển to hơn nên trung tâm thị xã, tỉnh lỵ tự nhiên nằm lọt vào ngay giữa và huyện Châu Thành được thành lập bao quanh như để bảo vệ tỉnh lỵ.

Sau 1975, các quận 2, 7 và 9 biến mất. Quận 2 sáp nhập vào quận 1; quận 7 trở thành một phần của quận 8; quận 9 (vùng An Khánh) nhập vào Thủ Đức. Đến năm 1997, bản đồ hành chính trở thành như hiện nay.

Thời thơ ấu của tôi trôi qua trong lửa loạn mà người Sài Gòn cũng không phải là ngoại lệ. Tiếng đại bác đều đều vang vọng lại từ nơi xa xa trong những giấc ngủ chập chờn. Có khi lại là tiếng nổ chói tai rồi để lại bên đường những xác chết. Chiến tranh để làm gì? Câu hỏi cứ dai dẳng mãi trong thời niên thiếu và vẫn còn ám ảnh đến tận hôm nay.

Tuy vậy, Sài Gòn luôn lãng mạn và hào phóng. Những vạt áo dài khi trắng khi hồng luôn trên người các cô gái, có khi khẽ nhẹ bay trong gió, những bộ complet chỉnh chu luôn bên các chàng trai. Họ dạo bước trên những con đường phủ đầy lá me bay, những con đường đã đi vào thi ca cũng như âm nhạc, những con đường mà khi đêm về “hàng cây thắp nến hai hàng” của Trịnh Công Sơn, những con đường huyền thoại một thời.

Sài Gòn vẫn luôn hai mùa mưa – nắng. Nắng Sài Gòn không gắt lửa nên “anh đi mà chợt mát” tạo nên bài thơ tình Nguyên Sa. Mưa Sài Gòn cứ vội vã chợt đến chợt đi, hễ khi trời nắng bỏng thì một cơn mưa chợt đến như để xóa tan cái nóng. Trong mưa, đường phố Sài Gòn dường như có một chút gì chùng lại, lãng đãng, bỗng nhớ nhung về một thoáng xa xôi tạo nên cái lãng mạn của mưa Sài Gòn nên người ta cứ muốn mưa mãi, muốn mưa đừng bao giờ dừng lại:

Anh vẫn xin mưa phong tỏa đường về
Anh vẫn cầu mưa mặc dù mây ảm đạm (Nguyên Sa)

Sài Gòn của tôi là những ngôi trường đẹp, khang trang, tường rào luôn là màu vàng nghiêm nghị như Trưng Vương, Gia Long hay Pétrus-Ký, rồi đến Văn Khoa hay Khoa Học Đường mà trong suy tưởng thời thơ ấu các anh chị say mê học tập và vui chơi thỏa thích, những ngôi trường đó đã đi vào dòng kẻ nhạc.

Tôi vẫn nhớ như in tiếng rao lanh lảnh của bà già bán bánh mì đầu ngõ “Đây, bánh mì chả lụa đây!” như để đánh thức giấc ngủ vào mỗi sáng, nghe như vừa gần gũi vừa xa vắng. Những gánh hàng rong, quầy nước, xe bánh mì bên lề đường trong một Sài Gòn nhộn nhịp luôn đầy ắp niềm nở, sự chân tình từ mọi tầng lớp lao động khác nhau. Một Sài Gòn nghĩa hiệp, hào phóng mà vẫn mộc mạc, đơn sơ.

Sài Gòn còn là những ngày đi học về trên những con đường thân quen. Đường Bùi Chu êm đềm lắm tiếng ve kêu, đường Võ Tánh không một bóng chiếc xe nào chạy qua mà mỗi khi tối xuống thì lắm ma hiện về dạo bước cùng người.

Dẫu rằng, không phải cái gì cũng đẹp nhưng ký ức từ thuở thơ ấu trong tôi, nhỏ nhoi như chiếc lá được ép cẩn thận trong quyển vở học trò, cứ còn đọng lại những kỷ niệm xưa thân thương.

Người ta đang trôi theo nhịp sống mới, xóa hay giữ kỷ niệm là thuộc quyền của mỗi người. Tuy vậy, mọi thứ đều phải thay đổi theo năm tháng cũng giống như những con chữ trong bài viết này cứ phải bôi bôi xóa xóa. Sau 1975, nhiều thứ đã thay đổi, Sài Gòn bỗng khác biệt.

Có bao giờ tôi gặp lại Sài Gòn của tôi lần nữa không?

Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments
Scroll to Top