Tùy Bút: Một Thoáng Nha Trang

Tùy Bút: Một Thoáng Nha Trang

Tôi đến Nha Trang vào những ngày giáp tết như là một chặng dừng chân trên đường đến Huế. Biển, nắng, gió và bãi cát dài cùng con người ở nơi đây đã tạo nên thành phố Nha Trang xinh đẹp.

Mặc cho dòng đời đổi thay, mặc cho cuộc sống âu lo hay hy vọng, Nha Trang mãi như những ngày xưa, vẫn lãng mạn, vẫn luôn quyến rũ lạ thường.

Nha Trang, biển đầy. Ngọn gió êm ả từ phía xa xa đưa sóng nước lại gần, tuôn dài vào bãi cát, dịu êm, như vỗ về, như thì thầm lời nói yêu thương. Nhìn tia nắng ấm chói chang từ ánh Mặt Trời chiếu xuống mà cứ ngỡ rằng đời người được kết bằng những sợi tơ vàng, kéo dài từ phía trời cao, mong manh giữa biển cả bao la.

Tôi đi dọc theo bãi cát dài. Cát trắng xoá, óng ả sắc vàng. Bãi cát trải dài xa tắp đến ngút ngàn, dẫn về phía chân trời, như một lối mòn đã mở vươn đến cõi thiên thai dành cho người trần thế. Từ xa xa, các ngọn núi mờ ảo nhấp nhô, ẩn hiện sau màn hơi của nước, dường như chúng vừa được sinh ra từ giữa lòng biển xa.

Tùy bút 1 thoáng Nha Trang

Hãy hít thở mùi hương trong gió thơm thơ, hãy lắng nghe tiếng rì rào của sóng để thấu hiểu chuyện đời của biển. Không một ai, một khi đã đứng trước biển, lại không cảm thấy cái mênh mông đến không cùng. Đứng trước biển, kiếp người chỉ còn là một thoáng vu vơ, giống như con ốc sên cuộn mình trong cát, nhỏ nhoi.

Đêm nay, tôi nằm đây, nghe “Nha Trang ngày về” mà Phạm Duy đã sáng tác vào năm 1969. Bài hát là một câu chuyện tình năm xưa đã mất, giống như cơn sóng biển xô bờ xoá tan mọi dấu vết của lâu đài trên cát. Mọi thứ cứ như là bọt biển, rồi sẽ dần tan biến vào hư không. Hai mươi năm trước, lần đầu tiên tôi đến Nha Trang giữa cái háo hức tìm kiếm danh vọng đời người. Đêm nay, tôi lại bước trên bãi khuya. Đêm nay không còn trăng soi, tôi không tìm lại được vết chân năm nào, phôi pha.

Quả là thiếu sót nếu không nhắc đến bác sĩ Alexandre Yersin. Điều gì đã khiến một bác sĩ tài năng từ bỏ danh vọng vừa chớm ở Paris hoa lệ để chọn xóm Cồn nghèo khó cùng những con người nghèo khó làm quê hương thứ hai khi tuổi đời chỉ vừa 27, vào năm 1890? Ông chữa bệnh miễn phí cho người nghèo mặc dù không phân biệt nổi người Việt giàu và nghèo. Ông dạy mọi người mọi thứ có thể. Thật trớ trêu, khi đã từ chối danh vọng thì danh vọng lại tự tìm đến ông. BS Yersin là người đầu tiên phát hiện vì trùng bệnh dịch hạch (mang tên ông), người đầu tiên phát hiện cao nguyên Lâm Viên và thành phố Đà Lạt, người thành lập các viện Pasteur ở Việt Nam… Ông mất năm 1943 giữa vòng tay yêu thương của hàng triệu người Việt và người Nha Trang khi đó.

Cách trung tâm thành phố không xa là một công trình kiến trúc tuyệt đẹp của người Chămpa xưa, mang tên tháp bà Po Nagar.

Tháp bà Po Nagar
Tháp bà Po Nagar

Tháp bà Po Nagar màu nâu đỏ, cổ kính, uy nghi, nhô cao lên giữa khoảng không tĩnh lặng, bao phủ một màu xanh thẫm từ những hàng cây cổ thụ rợp bóng. 1300 năm trước (khoảng giữa những năm 700), khi người Giao Chỉ chỉ là “bộ lạc thiểu số” trong một phiên trấn nhỏ bé của đế quốc nhà Đường thì từ nơi đây, một thành đô Chămpa sầm uất, tháp bà Po Nagar của vương quốc Chămpa hùng mạnh, được dựng lên. Đi ngang qua những tháp trụ bát giác bằng gạch nung vút cao, cảm thấy hồn thiên từ những năm xưa hiện về, u ẩn với bao điều kỳ bí không thể thấu hiểu. Văng vẳng từ nghìn năm trước vọng lại là tiếng kinh nguyện cầu và những buổi tế lễ theo nghi thức Hindu. Hình tượng nữ thần Durga (vợ của thần Shiva) được chạm khắc vào tháp làm cho điệu múa của bà trường tồn mãi cả nghìn năm, không thể phai mờ. Bên trong, ở một góc nhỏ cuối tháp, không gian trở nên lạnh lẽo pha thêm chút ít u ẩn, hình tượng bà Po Nagar, 10 cánh tay, ngồi uy nghiêm trên một phiến đá.

Po Nagar, vị nữ thần Chămpa được tạo nên từ bọt biển và ánh sáng mây trời, được sinh ra từ giữa biển khơi. Khi bà bước lên bờ, cây cỏ bỗng nở hoa thơm ngát, chim chóc hót líu lo vang khắp mọi nơi. Bà dạy cho người trần thế mọi thứ, từ trồng trọt, dệt vải cho đến chăn nuôi và mọi điệu múa.

Lịch sử có khi được viết bằng máu và thấm đẫm nước mắt. Từ xa xa, nhìn vẻ bi tráng bao trùm cả vùng không gian của tháp bà Po Nagar, bị bao vây bởi những ngôi nhà Việt mọc lên lởm chởm, mà nghĩ tới nỗi đau thương uất hận trong lịch sử bang giao Việt – Chămpa khi xưa. Sự hy sinh các công chúa Đại Việt đã viết nên lịch sử. Năm 1306, Huyền Trân về Chămpa để nước Việt có thêm Thuận Hóa. Năm 1631, công chúa Ngọc Khoa của chúa Hiền, Nguyễn Phúc Tần, trở thành hoàng hậu Chămpa thì lập tức vương quốc này bước ngay vào thời kỳ suy vong cuối cùng, không thể cứu vãn.

Năm 1653, đoàn quân Đại Việt bước vào Kauthara (phiên âm tiếng Việt là Khánh Hòa?). Một làng chài Chămpa nhỏ bé ven biển, có tên Jatrang, được Việt hóa thành Nha Trang. Theo bước đường nam tiến, người Việt từ xa xôi kéo về, lấy đi mọi thứ, Việt hóa mọi thứ từ trong tay người Chămpa. Ngay cả nữ thần Po Nagar cũng phải Việt hóa. Người Việt đã tạo nên một truyền thuyết mới và một cái tên thuần Việt, Thiên Y Thánh Mẫu, cho nữ thần. Po Nagar đã phải lui về một phía để nhường chỗ cho Thánh Mẫu. Thông thường, các nữ thần Hindu luôn có hình tượng bán khỏa thân trong các bức tượng điêu khắc hay tranh vẽ. Ban đầu, tượng bà Po Nagar khỏa thân ngồi trên phiến đá đến cả nghìn năm. Thế mà, người Việt đã mặc áo cho bà thành nữ thần Việt, có tên Thiên Y, với chiếc áo nhà Phật, theo cái cách văn hóa Việt. Một chiếc áo nhà Phật của người Việt nằm ngay giữa một quần thể kiến trúc và văn hóa Hindu của người Chămpa xưa. Còn gì kỳ lạ hơn?

Lẽ nào? Như một cơn mộng mị buổi ban trưa, tôi chợt nhớ đến truyền thuyết chùa Thiên Mụ ở Huế. Ngày xưa, từ lâu lắm, một bà già tóc trắng xóa, mặc áo đỏ, quần xanh lá, mỗi khi đêm về, bay nhè nhẹ ngang qua những hàng cây cao vút ở đồi Hà Khê với giọng vang xa “Ai xây cho nơi đây một cái chùa thì người đó sẽ thống lĩnh giang san!”. Thế là, sau đó, một ngôi chùa đã được dựng lên ở đỉnh đồi Hà Khê, với cái tên Thiên Mụ để tưởng nhớ bà trời đó. Lẽ nào? Một sớm mai nào đó, truyền thuyết này bỗng được thay bằng một truyền thuyết khác: “Từ lâu lắm, một bà già tóc trắng xóa, mặc đồ sườn xám, mỗi khi đêm về…” để Hán hóa truyền thuyết với tên chùa cũng bị Hán hóa. Lẽ nào?

Hai mươi bốn tiếng đồng hồ dừng chân không đủ để hiểu Nha Trang nhiều hơn nhưng, có lẽ, nơi đâu ở đất nước này cũng là những lo toan giống nhau. Ngày mai, tôi sẽ có tiếp hai mươi bốn tiếng dừng chân ở thành phố Đà Nẵng. Hai mươi bốn tiếng chỉ đủ để thăm lại những người bạn sau hai mươi năm không gặp. Hai mươi năm đã làm những sợi tóc nhuốm màu nhưng những người bạn vẫn mãi là của những năm xưa…

Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments
Scroll to Top